Đó là năm 1949. Ở tuổi 30, Billy Graham không biết rằng mình sắp trở thành một nhân vật có ảnh hưởng trên thế giới. Tuy nhiên, trong lúc chuẩn bị cho chiến dịch truyền bá phúc âm tại Los Angeles, Graham đột nhiên bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm linh – không phải hoài nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa hoặc thần tính của Chúa Giê-xu, mà là luôn tự hỏi liệu mình có nên tuyệt đối tin vào những giáo huấn của Kinh Thánh.

Billy Graham

Graham thuật lại rằng ông cảm nhận được nỗi đau tâm linh như thể đang bị tra tấn. Song Henrietta Mears, một nhà giáo dục Cơ Đốc tài năng và đầy lòng nhân ái,  là người hiểu biết sâu sắc về nền học thuật đương đại đồng thời có niềm tin vững chắc vào sự chân xác của Kinh Thánh, đã giúp Graham trở về với Thiên Chúa.

Graham cầu nguyện và tra xem Kinh Thánh để tìm câu giải đáp. Dưới ánh trăng trên rặng San Bernadino, Graham nắm chặt quyển Kinh Thánh, quỳ xuống và xưng nhận rằng ông không thể giải quyết những hoài nghi đang dấy lên trong lòng. Cuối cùng, Graham thốt lên, “Lạy Cha, bởi đức tin con chấp nhận đây là Lời của Ngài. Con sẽ để đức tin phủ lấp những tra vấn và hoài nghi. Con tin quyết rằng đây là Lời được soi dẫn của Chúa.” Theo lời kể của Graham,  ông cảm nhận được quyền năng của Thiên Chúa mà ông không nhận biết từ nhiều tháng qua, “Không phải mọi tra vấn đều được giải đáp, nhưng một cây cầu đã được bắc ngang”, và tiếp, “Tôi biết cuộc tranh chấp tâm linh đã qua rồi, và phần thắng thuộc về tôi.”

Chúng ta đã biết điều gì xảy đến cho Graham trong những năm kế tiếp. Nay ông là nhà truyền bá phúc âm có nhiều ảnh hưởng nhất, và là một trong những nhân vật được ngưỡng mộ nhất trên thế giới.

Một hình ảnh đối nghịch với Graham là người bạn thân, cũng là một nhà thuyết giáo, Charles Templeton. Templeton lớn hơn Graham ba tuổi.

Theo tự thuật của Templeton, ông tiếp nhận đức tin Cơ Đốc sau khi nhận thức tình trạng tội lỗi của mình, và trải nghiệm niềm hạnh phúc được cứu rỗi. Từ bỏ nghề báo để nhận lãnh thánh chức, đến năm 1945, Templeton gặp Graham trong một chương trình truyền giảng cho giới trẻ. Hai người trở thành bạn cùng phòng và chia sẻ tòa giảng với nhau trong chuyến đi truyền bá phúc âm ở châu Âu. Templeton thành lập một hội thánh, chẳng bao lâu số người dự nhóm đầy ắp lễ đường có 1.200 chỗ ngồi. Tình bạn giữa hai người ngày càng sâu đậm hơn.

Charles Templeton

Song, những hoài nghi bắt đầu chụp bắt Templeton, và giày vò ông. Quyết định từ bỏ thánh chức, Templeton trở về Canada, trở thành nhà văn và nhà phê bình.

Đức tin và trí tuệ có tương thích với nhau? Có thể nào vừa là một nhà tư tưởng vừa là một tín hữu đặt trọn niềm tin vào Kinh Thánh?

“Đức tin và lý trí đối nghịch nhau và loại trừ  nhau,” George H. Smith, một người vô thần, khẳng định, “Đức tin là niềm xác tín không có lý trí, hoặc bất chấp lý trí.”1

Nhà giáo dục Cơ Đốc W. Bingham Hunter thì nghĩ khác, “Đức tin là sự đáp ứng thuần lý đối với chứng cứ về sự tự mặc khải của Thiên Chúa trong thiên nhiên, lịch sử nhân loại, Kinh Thánh, và trong Con Ngài Đấng phục sinh.”2

Đối với tôi, trong nhiều năm từng là người vô thần, điều tệ hại nhất là một đức tin ngây thơ lập nền trên một nền tảng mong manh của ước muốn và niềm tin tự tạo. Tôi cần một đức tin phù hợp, chứ không đối nghịch, với lý trí. Tôi cần một đức tin được xây dựng trên, chứ không tách rời khỏi, thực tế. Tôi muốn biết liệu đức tin Cơ Đốc có thể đứng vững trước các tra xét, nghi vấn hay không.

Đã đến lúc tôi phải tìm gặp Charles Templeton.

bấm vào đây để đọc tiếp 2/12 >>

Advertisements